Showing posts with label Tu Thiền. Show all posts
Showing posts with label Tu Thiền. Show all posts

Thursday, December 12, 2013

Thiền bệnh

Theo dõi bài thuyết pháp: Youtube - Lưu trữ
Bối cảnh:

1. Nhức đầu
  • Thấy nhiều thứ quan trọng quá (--> quán đời là giấc chiêm bao)
  • Lực chạy lên đầu (có thể do phép quán )
  • Khi còn đang thiếu Phước --> nên nhận lỗi về mình (dùng nhân-quả nghĩ cảnh khổ là do nghiệp) thì tâm yên, lúc này quán "không" lại không còn tác dụng
  • Nghĩ sai lầm về vị khả kính (Phật/Pháp/Tăng)
  • Có thể bị bệnh về thân (như viêm xoang, v.v.)


2. Thân bệnh:
  • Đau lưng: có thể do ngồi bị cong lưng, hoặc bị virus đánh vào tủy sống
  • Chân bị yếu: do xả Thiền vội (chân còn tê mà đã đứng dậy đi)
  • Hơi thở bị nghẹt tức: do cố ý điều khiển hơi thở
  • Kiệt sức: vì ráng ngồi lâu quá (chúng ta cầu ngồi lâu một chút để rèn luyện ý chí, nhưng phải theo Phước, không cố quá sức)
  • Buồn ngủ: là do thiếu ngủ (thì phải ngủ), hoặc do Nghiệp (khi đó thì phải sám hối)
  • Ngứa ngáy: nơi mặt, như kiến bò (thường gặp ở người mới tu) --> phải chịu vậy, nguyên nhân ngứa: kích ứng thần kinh da mặt do giằng ép (giữa việc nghĩ hay không nghĩ) hay do ý nghĩ xấu trong ngày
  • Hai chân bị rung: do gân cứng --> xoa bóp thì hết; hoặc do đầu bị căng thẳng --> buông lỏng, thư giãn nhẹ nhàng


3. Rối loạn nhân cách (bị đổi tánh -- điên -- tẩu hỏa nhập ma)
  • Nóng nảy: chưa tu Thiền thì hiền lành, tu rồi thì nóng nảy: nguyên nhân do kiêu mạn. Vì sao kiêu mạn? (i/ tự thấy mình hơn người, ii/ do giáo lý) --> quán mình như cỏ rác, cát bụi. Nóng nảy có thể do giằng ép (để yên lắng cần phải có 3 yếu tố: Phước - Đức - Khí công)
  • Thờ ơ với cuộc đời: Nếu tu đúng thì bình thản nhưng lại tận tụy với cuộc đời. Nguyên nhân: lúc bắt đầu tu căn bản đạo đức bi thiếu, quán từ bi không kỹ (phải đủ 4 tâm hạnh: Tôn kính Phật, từ bi, khiêm hạ, nghiêm trì giới luật), 1 nguyên nhân nữa là do dễ nhiếp tâm quá
  • Nói nhiều, chuyện tào lao: Nguyên nhân vùng não ngôn ngữ bị kích động, thường là nói khoe khoang cao siêu, cái gốc là kiêu mạn (cần phải sám hối) --> Điều gì có lợi cho người thì nói, có lợi cho mình thì không nói, nói gì phải xuất phát từ tâm khiêm hạ của mình (3 giai đoạn của lời nói: động cơ, hệ quả)
  • Bệnh hơn thua - tự phụ: hay tranh cãi đúng sai, hay đem đạo lý ra để so tài hơn thua, nói Thiền ngữ.
  • Thấy gì cũng không:  
  • Bệnh động dục: <có người càng tinh tấn thì càng bị> Nguyên nhân tâm lý là do kiêu mạn (--> sám hối, quán mình như cát bụi, cỏ rác), bị nguyên nhân này thì dễ chữa; Nguyên nhân thứ 2 là lực chạy lên đầu, kích động vùng não tình dục --> để tâm phía dưới; đối diện nhìn thẳng vào cảm giác đó
  • Điên loạn: khi phước quá tổn, bộ não bị hỏng do lực chạy lên. Thuốc nổ chính là kiêu mạn. Lạm dụng thầm thông rồi kẹt cứng vào đó (nghe thấy tiếng động nhỏ, làm thơ ào ạt, v.v.) --> phải nhập định sâu vài ngày để phá hết thần thông.


---
Lưu ý


Sunday, March 24, 2013

Khóa tu Thiền thứ nhất (tại Chùa Di Đà)

Theo dõi bài thuyết pháp: Youtube - Lưu trữ


10 phương 3 đời chư Phật đều do Thiện định mà chứng đạo. Chúng ta thờ đức Phật trong tư thế Kiết già. Người đệ tử Phật cuối cùng cũng phải ngồi Thiền. Có thể bước đầu ta đến với đạo Phật ta tu bằng các pháp môn khác (tụng kinh, trì chú, v.v.) thì phải biết ngồi Thiền.

Việc ngồi Thiền cực kỳ khó, bởi vậy việc làm Thánh, làm Phật cực kỳ khó. Bởi vậy, ta càng yêu kính những người tinh tấn, an tĩnh trong Thiền định. Ngồi Thiền rất đau lưng, đau chân, tâm rất loạn. Ta phải chuẩn bị tâm thế của mình, chấp nhận cực khổ, gian nan vất vả; hết kiếp này đến vô lượng kiếp sau; không bao giờ thoái lui.

Phải hết sức khiêm tốn. Biết Thiền là khó nhưng không thể không đi, bởi nếu không ta sẽ trầm luân trong sinh-tử. 

Biểu hiện của Thiền định là "nhiếp tâm thanh tịnh".
Mục tiêu của Thiền định là "vô ngã".

Ý niệm về vô ngã: không có "ta". Không có ý niệm này thì dù có đạt được tâm thanh tịnh, có thần thông thì vẫn chưa phải là Thánh trong đạo Phật nếu chưa có ý niệm về "vô ngã".

---

Để "nhiếp tâm thanh tịnh" thì có rất nhiều phương pháp nhưng không phải cái nào cũng đúng.

Tứ diệu đế: Khổ đế - Tập đế - Diệt đế - Đạo đế

Bát chánh đạo:
1) Chánh Kiến (trong đó có tất cả vũ trụ, pháp giới này; cái lõi quan trọng nhất là Luật nhân quả), 2) Chánh Tư Duy, 3) Chánh Ngữ (lời nói), 4) Chánh Nghiệp (tạo Phước), 5) Chánh Mạng (khi phước ta đủ rồi thì ta sẽ có cách kiếm sống một cách chân chính), 6) Chánh Tinh tấn, 7) Chánh Niệm, 8) Chánh Định.

Chánh Tinh tấn (kiên trì thực hành một phương pháp nhiếp tâm): có một phương pháp và thực hành phương pháp đó một cách kiên trì. Nội Chánh tinh tấn là cả một đời tu (mà chưa hề chứng gì cả). Dù rất nhiều pháp môn nhưng đều dung nghiếp lẫn nhau, hỗ trợ nhau và xoay quanh cái lõi "vô ngã".

Chánh Niệm: là kết quả ban đầu; có thể đạt sau một vài năm, hoặc 10-20-30 năm tùy theo căn cơ. việc của ta là cứ khiêm hạ.

Chánh niệm tỉnh giác: Tâm ta sáng tỏ, rỗng rang, kiến giải lanh lợi, nhưng chưa vào định. Người đạt được Chánh niệm tỉnh giác đã kiểm soát được vọng tưởng, dù vọng tưởng khởi lên nhưng không bị vọng tưởng lừa dắt đi. (khi chưa có chánh niệm ta bị mê theo chuyện đời - cuộc nói chuyện với bạn bè, trong báo chí)

Tu Đà Hoàng (nhập lưu vào dòng Thánh): Phật thọ ký cho người này sẽ phải chứng đạo vào một kiếp nào đó. Người này sống vị tha, thích giúp người, thích bố thí, không cố chấp. Sống gần người này hạnh phúc, dù họ còn suy nghĩ sai. Đủ niềm tin tuyệt đối vào đức Phật.

Tư Đà Hàm: đã viên mãn chánh niệm, chuẩn bị vào Chánh Định; tâm cực kỳ sáng, kiến giải cực kỳ sâu; không ai bắt bẻ được người đó về lý Thiền nữa. Như Phật thọ ký, người này còn phải trở lại kiếp người 1 kiếp nữa để chứng cao hơn. Tâm tỉnh giác cực kỳ sâu, cực kỳ sáng; nhận ra một sự bình đẳng giữa muôn loài; vạn pháp là bình đẳng; sống bình đẳng chang dải với muôn loài. 

Trong Chánh Niệm lần lượt phá năm Triền cái
- Tham: không còn chuyện gì của thế gian làm ta ham muốn.
- Sân: họ có thể nghiêm khắc để dạy dỗ nhưng không sân (lòng không bị "bừng bừng" ở bên trong)
- Hôn Trầm: bình thường thì vẫn ngủ, nhưng khi cần phải thức thì vẫn thức
- Nghi: Trong tâm có tự tin là con đường mình đi đúng rồi, không còn con đường nào khác.
- Trạo cử: Thân sẽ bất động, ngồi như một khối đá, sức mạnh tỏa ra giữ cho thân bất động

Trong Chánh Định có mấy mức Thiền: Sơ Thiền, nhị Thiền, tam Thiền, tứ Thiền
Bậc Thánh A-na-hàm (Bất lai - không trở lại cõi người): chứng được 3 mức Thiền đầu. 

Tứ Thiền là của Quả Thánh A-la-hán

Để đạt được 3 Chánh cuối thì phải mất vô lượng kiếp, phải biết như vậy để mà tinh tấn thì mới "vô lượng kiếp". Phải chuẩn bị tâm thế đúng thì lại đi nhanh hơn.

Để chứng trong Thiền định ta cần 2 điều:
Phương pháp đúng
Công đức sâu dày: Trong kinh Kim Cang ("muốn hàng phục được tâm, an trú được tâm thì phải độ được tất cả chúng sinh vào Niết Bàn"). Nghĩ là để có an trú trong Thiền Định, thì phải độ cho chúng sinh tu hành, độ vô số (không đếm số lượng) - muốn nhiếp tâm thì giúp mọi người tu. Có nhiều cách giúp người, giúp người tu thì ta được hưởng an trú trong Thiền định - những cách khác thì chỉ giúp ta được Phước hữu lậu. Có vô số việc có thể làm để giúp người tu: Thuyết pháp, phụ giúp cất chùa, truyền bá pháp, nói chuyện đạo, tổ chức khóa tu, v.v. 

Thông thường, ta gặp ai nói với họ một câu thì người ta không chịu tu; ta phải giúp đỡ họ rất nhiều, họ mắc nợ ta và khi đó họ mới nghe lời ta. Để độ chúng sinh thì trước đó phải giúp đỡ chúng sinh rất nhiều để chúng sinh mắc nợ. Bởi vậy, để độ được chúng sinh thì đó là kiệt tác trong đời. Kiệt tác của ta là đưa được một người về với đạo.

Để tạo được kiệt tác đó, chúng ta phải giúp họ rất nhiều: Cái ăn; Cái mặc; Nơi ở; Kiến thức; Đạo đức; Nghề nghiệp; Việc làm; Đạo lý tu hành. Trong đời, phải giúp không chỉ một ngày, mà phải độ vô số người.

Trong vô số công đức ta làm, có một công đức gốc - lòng tôn kính Phật. Tu càng cao chừng nào thì càng kính Phật nhiều hơn. Bởi vậy phải lễ kính Phật hàng ngày. Việc thứ hai là phải phụng sự cuộc đời (từ việc nhỏ cho gia đình, anh chị em, họ hàng, cơ quan, lý tưởng là cho đất nước ta; và khi có cơ hội thì ta cũng phụng sự cho cả thế giới này). Tình yêu nước là đạo đức trong hệ thống đạo đức của tâm hồn con người. Thiếu cái này thì đạo đức ta bị khiếm khuyết. 

Ta có 3 việc phải làm để ta tĩnh lũy công đức sâu dày, và từ đó có thể nhiếp tâm trong Thiền định:
- Lễ kính Phật
- Phụng sự cho đời
- Truyền bá giáo lý giác ngộ cho vô số chúng sinh

Thế giới bắt đầu quan tâm đến Thiền. Ấn Độ đưa Thiền vào trong nhà tù để chuyển hóa suy nghĩ "mạnh được yếu thua" của phạm nhân. Một số trường học đã đưa Thiền định trong học đường. Muốn dạy đạo đức cho học sinh thì phải dạy Luật Nhân-Quả, bởi nó có tính ràng buộc, khi biết nó người ta biết sợ làm việc xấu. 

i) Thiền nâng con người lên thành con người mới, cao cấp hơn. ii) Thiền nâng trí tuệ con người. iii) Thiền đem lại đạo đức cho con người. Sống gần một người vô ngã sướng vô cùng (họ cảm thông ta khi ta mắc sai lầm, họ vui mừng vì sự thành công của ta v.v.). iv) Thiền còn mang lại sự lãng mạn nghệ sĩ - thấy được cái đẹp của cuộc đời. 




---
Lưu ý

Friday, March 22, 2013

Tinh tấn hành thiền

Theo dõi bài thuyết pháp: Youtube - Lưu trữ

---

Thiền định mang lại lợi ích cho cả các tôn giáo chứ không chỉ cho đạo Phật. Tâm an tĩnh, bình yên, hư vô mang lại lợi ích cho mọi người. Thời đại tới sẽ là thời đại của tâm linh.

Việc tu tập Thiền định sẽ trở thành dấu hiệu của con người trong thời đại văn minh mới.

Tu Thiền không hề dễ, bởi nếu dễ thì đã không thể nâng con người lên một tầng cao mới. Càng lớn tuổi càng khó ngồi, nhưng lại biết dụng tâm. Nhỏ tuổi thì ngồi dễ, nhưng lại chưa biết dụng tâm.

Khó vì ta quen cử động, quen nhúc nhích, giờ phải ngồi không nhúc nhích.

Ta cứ ngỡ ta vui, hạnh phúc trong lạc thú trần gian (nhậu, gặp bạn bè, bồ bịch, du lịch, v.v.) hóa ra không bằng. Sự an tĩnh của tâm hồn mới là hạnh phúc, mới là vô giá - mà tự ta cảm nhận được.

Người chưa đạt được sự an tĩnh thì ngồi rất bứt rứt, nhưng nếu có căn lành, gặp thầy giỏi bạn tốt giúp ta thực hành Thiền thì sẽ vẫn tinh tấn.

Nếu ngồi Thiền 3 năm mà chưa được an tĩnh vậy mà vẫn ráng ngồi, có gì đó bí mật thôi thúc ta tiếp tục tu Thiền thì chứng

Giúp ta xác chứng lại những gì ta đã học. Ví dụ: có đạo lý trong đạo Phật dạy ta không được "sân" (giữa những người sân hận, ta sống không sân hận). Ta nghe thì hiểu ngay, nhưng rồi trong cuộc sống ta vẫn sân, vẫn giận. Đầu tiên, ta dùng tâm lý đạo đức thì ta kiềm chế (dùng lý luận để hiểu sự cần thiết của việc không sân, lễ Phật cầu gia hộ, v.v.). Chỉ có người qua Thiền định chứng được Chánh niệm tỉnh giác.

Biết rõ toàn thân, biết hơi thở vào, hơi thở ra (và không quên); vọng tưởng khởi lên làm ta lại quên hơi thở, ta nghĩ đến chuyện khác. Cứ khi nhớ khi quên làm ta không nhổ được gốc sân. Nếu công đức ta đầy đủ (lẽ kính Phật, yêu thương mọi người, khiêm hạ, v.v.), Phước dày, giúp ta nhớ hơi thở không quên không chạy theo chuyện đời. Rồi dần dần ta kéo dài việc nhớ hơi thở được 5 phút, 10, 20 phút rồi tâm ta vỡ ra, bước vào trạng thái mới rỗng rang, tỉnh sáng (các vọng tưởng, lý luận có thể còn những không dẫn ta đi khiến ta quên hơi thở) thấy lòng rỗng rang như cái thùng không đáy. Lúc này ta mới đạt được sự thanh thản, không còn buồn giận trước bất cứ chuyện gì.

Phật dậy ta phải "yêu thương con người". Khi ta vào sâu trong Thiền định, ích kỷ đi đâu không hay, trước mắt mình chỉ muốn làm điều gì tốt cho mọi người, chẳng còn sống cho mình, lòng từ bi thực sự trở thành mạch sống, trở thành bản chất của ta. Sử dụng tiền bạc, của cải vẫn hợp lý chứ không liều mạng, vẫn sử dụng đúng; chứ không phải là sự đấu tranh giằng co giữa ích kỷ và vị tha.

Bố thí Ba-la-mật không có nghĩa là có bao nhiêu cho sạch; mà trái lại ta phải cân nhắc: cho đúng đối tượng, đúng số lượng (không nhiều hơn, không ít hơn - so với số tiền mình có, so với số lượng người ta cần), có đúng lúc không, đặc biệt là không chấp công (không nhớ là mình vừa ban ơn).

Người rốt ráo, tinh tấn tu trong đạo Phật, ta nhìn vào thấy rất bình thường. Cái gì đúng trong đạo Phật lại là trung dung, vừa phải.

Cách ngồi Kiết Già: 5 cái tâm gom lại 1 chỗ (hai lòng bàn tay, 2 lòng bàn chân và cái rốn của ta), lưng thẳng nhưng không thẳng quá (phải vừa chừng); 2 mắt nhìn xuống; 2 vai xuôi đều; toàn thân buông lỏng, khởi tâm (Tôn kính Phật tuyệt đối; Yêu mọi người; Khiêm hạ; Giữ giới - đối với Phật tử); biết toàn thân để giữ thân mềm mại mà không nhúc nhích; quán thân vô thường;

Điều hay của quán thân vô thường rất hay (mình bớt ích kỷ, bớt phiền não, bớt ham chưng diện), người ngoài nhìn vào thấy mình thay đổi cách sống.

Bước tiếp theo, ta theo dõi hơi thở (biết hơi thở vào, biết hơi thở ra mà không điều khiển).

Cảm giác toàn thân, biết hơi thở vào; cảm giác toàn thân biết hơi thở ra. (đứng cũng tập được, đi cũng tập được)

Khi mình tập rồi thì mình say sưa, sẽ tự mình giữ gìn thời khóa hành Thiền.

Trong đời sống vẫn phải tinh tấn tu Thiền, nếu ta không giữ được thì lúc ngồi Thiền sẽ khó an tĩnh. 
- Gặp người bạn tay bắt mặt mừng; nhưng tâm vẫn phải âm thầm biết toàn thân mình.
- Trong lúc ta làm việc (đạp xe, bổ củi, tai đang nghe, mắt đang nhìn, v.v.) tuy phải để ý công việc nhưng vẫn phải chia bớt một cái tâm để biết toàn thân. Khó là ở người làm việc tri thức (đọc sách, lập trình, v.v.) thì phải tập trung óc tối đa; nhưng, vẫn phải chia bớt tâm một phần để biết toàn thân, để giữ chánh niệm. Trong đời sống mà ta để tâm chạy theo chuyện thế gian thì khi ngồi Thiền sẽ khó nhiếp tâm, mà như thế sẽ mất niềm tin, rồi trôi lăn trong luân hồi.

Giữa Thiền và điều thiện có mối tương quan: Người thiện đi liền với tâm an tĩnh, người ác đi liền với tâm loạn động. Đây cũng là nguyên lý.

Người chứng được Sơ Thiền thì sự bất thiện chấm dứt. Nếu tâm động loạn, bất an thì phải biết trong tâm ta có cái gì bất thiện mà phải tìm cách chữa (có thể là ích kỷ, tham lam, tham vọng tiềm ẩn nào đó; khi sống vì mọi người thì tâm sẽ an tĩnh).

Ngươi tu Thiền phải có ý chí kiên cường (thanh thản vậy nhưng lại chiến đấu thầm lặng với chính mình không ai thấy). Ý chí điều phục tâm mình, thân mình, hơi thở của mình là cực kỳ lớn. Ta phải chấp nhận gian khó, cực khổ.

Một ngày cố gắng phải ngồi ít nhất là 2 thời Thiền (trước và sau khi ngủ).

Thiền duyệt thực (thức ăn là niềm vui trong Thiền), ai mà có cái này thì sẽ tự tinh tấn. Khi đó tự ta sẽ nhìn thấy những lạc thú của trần gian là vô nghĩa.

Có cái giá phải trả: Trên căn bản Phật dạy là ta phải bỏ lạc thú trần gian trước, giữ gìn giới hạnh thì ta mới có thể đạt được an tĩnh Thiền định. Tuy nhiên, chỉ có số ít người vẫn đang hưởng lạc thú thế gian mà vẫn có thể chứng đắc được Thiền định.

Còn nếu mãi mà chưa thấy an tĩnh, thì xin hãy vì niềm tin yêu với đức Phật, tình yêu thương con người, thấy luân hồi là đau khỏ mà chấp nhận từ bỏ lạc thú trần gian, để tinh tấn.

Một người có sự giác ngộ rồi thì lợi ích tỏa ra xung quanh, một lời nói lay động bao nhiêu người, hướng bao nhiêu người về nẻo thiện, cứu thế gian này không còn chìm trong tăm tối nữa.

Chúng sinh có 5 loại:
  • Khoáng vật & đất đá: có tâm linh nhưng rất ít
  • Thực vật, cây cỏ: có trao đổi chất, có sinh hóa, có tăng trưởng
  • Động vật: có tâm linh, tâm thức; nhưng không rõ thiện-ác mà chỉ làm theo bản năng
  • Con người: có suy luận, phân biệt được thiện-ác nhưng có khi lại nhầm lẫn
  • Thánh: tâm thanh tịnh, thuần thiện, trực giác mạnh (đây là đối tượng mà ta phải hướng tới - đạo đức cao, trí tuệ cao và hạnh phúc tràn đầy -- như ta hiện nay: trí tuệ hạn chế, đạo đức lộn xộn giữa thiện và ác, mà hạnh phúc mong manh); ta phải trở thành bậc Thánh để kéo mọi người cũng trở thành bậc Thánh. Cách để nâng con người trở thành bậc Thánh là qua Thiền định mà Phật đã mở ra cho tất cả chúng sinh.



---
Lưu ý

Monday, December 31, 2012

7 Câu Hỏi về Thiền


Nội dung dưới đây được sưu tầm từ blog Lich sử Phật giáo, có bổ sung thêm các ghi chú cho bản thân.

Câu 1: Tại sao phải ngồi thiền đúng tư thế, giữ thân mềm mại bất động?

Ta buộc phải ngồi đúng tư thế kiết già mà mười phương, ba đời Chư Phật đều ngồi như vậy. Vì sao? Vì đó là cấu trúc của tâm và sinh lý phù hợp cho việc nhiếp tâm trong tu tập Thiền định. Nếu đứng, không thể đứng lâu và không vững. Nếu nằm thì giải đãi. Ngồi là tư thế trung dung giữa đứng và ngồi, đảm bảo chịu đựng được lâu. Đó là nói về sự cố gắng. Ngoài ra, trong cái ngồi đó mình phải bắt kiết già để khóa chân lại, hai tay nắm lại giữa lòng, không bung ra, lưng phải thẳng cho nên hợp lại với nhau và phù hợp với sinh lý của não nhất, khiến cho não dễ dàng được thanh thản. Tất cả các thế ngồi khác,như khi ngồi bán già hoặc ngồi trên ghế…đều không thể hỗ trợ cho việc nhiếp tâm vào sâu. Tư thế kiết già đảm bảo khoảng cách từ lòng bàn chân đến não là thích hợp nhất, đảm bảo để máu từ tim lên não và xuống lòng bàn chân, điều này có tính khoa học.

Tại sao phải thẳng lưng? – Thầy chỉ nói một ý vắn tắt. Sau này mọi người đi dậy người ta thì phải nói nhiều hơn.

Giữ thân mềm mại bất động. Vì mọi hoạt động của thân đều liên quan đến não. Do đó nếu thân nhúc nhích thì não sẽ bị động. Phải giữ toàn thân mềm mại, bất động để não được thư giãn. Đó là điều bắt buộc. Mà nếu ta gồng thân thì sao? – Thì não sẽ căng thẳng. Bởi vậy ta buộc phải giữ thân mềm mại, bất động để não bất động, thư giãn. Sự thật, tu thân chính là tu tâm. Ở đây có một điều lạ, đó là nói “Thiền là điều phục tâm” nhưng có nhiều nơi tu thiền mà trực chỉ thẳng vào tâm, nắm cái tâm tu luôn. Không ngờ cái đi thẳng lại là cái sai, không bao giờ thành công. “Đi vòng một khắc, đi tắt một ngày”. Chính cái đi vòng, đi từ cái nền theo thiên nhiên đã bày ra mà ta làm chủ được cái tâm mình. Ta muốn đi thật cao thì ta phải bò xuống thật thấp, muốn đi thật xa thì hãy đi thật chậm. Cũng vậy, muốn điều phục tâm, ta hãy lo chuẩn bị, sửa soạn thân cho thật kỹ. Vì thế, giữ thân mềm mại bất động chính là giữ cho tâm mình bất động, yên lắng và thư giãn.

Câu 2: Tại sao khi ngồi thiền phải cảm giác toàn thân, an trú toàn thân?

Giống như mình hồi nhỏ, khi mình học toán thì diện tích hình chữ nhật là cái gì? Là dài x rộng, mình không biết tại sao. Nhưng khi mình lớn lên tới lớp 12 thì phải biết tại sao. Do đâu biết tại sao? Do ta học Tích phân. Giống như hồi nhỏ ta học diện tích hình tròn thì bằng bình phương bán kính nhân với số Pi. Cứ học thôi, không biết tại sao. Nhưng tới lớp 12, ta phải biết tại sao, khi ta được học môn Tích phân thì ta biết tại sao nó như thế.

Thì cũng vậy, khi ta mới đến học Thiền thì căn bản là biết rõ toàn thân. Biết rõ thân này là vô thường, bắt đầu biết hơi thở. Biết hơi thở vào, biết hơi thở ra rõ ràng và không điều khiển. Ta cứ học vậy thôi, từ từ tâm ta thanh tịnh. Từ từ phá vỡ hết những phiền não cấu trúc trong não ta, ta đi vào thanh tịnh. Nhưng ta không cần biết tại sao. Nhưng mà khi không biết tại sao thì trong lòng ta vẫn có cái gì đó hồ nghi nhỏ nhỏ. Còn khi ta biết tại sao như thế thì ta rất vững lòng ứng dụng pháp môn của mình.

Bây giờ Thầy giải thích. Mình sẽ hiểu được các pháp môn khac họ tu đúng chỗ nào, sai chỗ nào.

Theo sinh lý học về não của y học, ghi trong y văn, thì nguyên vùng vỏ não của chúng ta, mỗi vùng vỏ não gánh một bộ phận cơ thể. Toàn cơ thể phía dưới đều được phản ứng trên vỏ não. Ví dụ chân nằm ở đây, ngón chân nằm ở kia, gan, thận, phổi, lá nách, phổi, cánh tay, lưng, bụng, đùi đều nằm trên vỏ não. Bây giờ ta dùng kim chích vào vùng vỏ não đầu gối thì đầu gối đau liền mặc dù không đụng tới đầu gối.

Hoặc là có những người bị tật nguyền mà mất chân vì lý do tai nạn, họ cứ thấy bị ngứa ngón chân cái, nhưng mà có để gãi không? Ngón chân cái không có để gãi nhưng vẫn bị ngứa, thì cái ngứa đó ở đâu? Vì vùng não của ngón chân cái còn. Vùng não bị cái gì đó nên ngứa ,nhưng nó phản ánh toàn thân là có ngón chân cái mà rờ không có chỗ nào để gãi hết. Ta hiểu như vậy, vỏ não của ta phản ánh cơ thể của ta. Nó có chức năng, trách nhiệm phản ánh toàn cơ thể của ta. Tự nhiên, bình thường và bình yên như thế. Thế nào khi ta sống mà ta bị căng thẳng, khi ta sống mà ta được thư giãn? Tức là vỏ não làm việc đúng chức năng của nó.

Ví dụ như là phần vỏ não thể hiện về cánh tay của ta mà nó được an trú nơi cánh tay của ta thì nó là thư giãn, nó bình yên. Nếu vỏ não đó buộc nó phải suy nghiệm về vấn đề khác thì nó trở nên căng thẳng dần, gọi là tâm ta động. Ta mệt, ta phải làm việc. Khi não ta làm việc nghĩa là gì? Là nó không thực hiện đúng với cái chức năng tự nhiên của nó, bắt đầu nó phải động qua vấn đề khác. Nhiều ý niệm khác đi vào. Như cái vùng đó chịu trách nhiệm về lưng nhưng vây giờ nó không chịu trách nhiệm về lưng nữa mà lúc đó đang suy nghĩ về người hàng xóm, về việc hơn thua, cãi lẫy… là nó rời khỏi chức năng đó. Gọi là não ta bắt đầu đi vào Stress, căng thẳng. Còn nếu vùng não của cái lưng mà nó phản ánh đúng cái lưng, an trú đúng cái lưng thì nó trở nên nhẹ nhàng, bình yên. Đây là mấu chốt phải hiểu được chỗ này mới hiểu sâu hơn nữa vào Thiền từ từ.

Nói lại, một ví dụ khác. Ví dụ như một người canh trước Chánh Điện, họ ngồi đó, biết hết mọi vấn đề từ hồi nào tới giờ rồi, như là cửa trên có mấy phần, cửa dưới có mấy phân, ai đi ra đi vô đều biết hết. Nhưng bây giờ họ ngồi đó mà không cho họ canh Chánh Điện nữa, bắt họ ngồi đó tính toán kế toán của chùa, thì lúc đó họ phải mệt hơn. Còn bây giờ không tính toán, cho họ về đứng yên đó trở lại làm công việc đúng chức năng thì họ thoải mái, bình yên lại liền.

Từng vùng não phản ánh mọi điểm trên toàn thân chúng ta, đó là mấu chốt làm cho mình định hay động. Vì thế, khi ngồi thiền mà ta an trú toàn thân, ta không nghĩ chuyện khác nữa, có nghĩa là cái vỏ não bình yên. Nó trở lại trạng thái tự nhiên của nó. Đó là bước thứ nhất để đi về phía thư giãn chứ Thầy chưa nói định. Đó là lý do tại sao ngày xưa Đức Phật bảo ta là phải cảm giác toàn thân, là để cho vỏ não trở lại đúng chức năng từng vùng của nó. Đó là công thức bí mật vô cùng. Bây giờ ta mới thấy sợ Đức Phật. Thời đó Đức Phật không thể giải thích vì khoa sinh lý học của não chưa ra đời. Nên Đức Phật dậy ta rất kỹ về điều này mà không giải thích. Đến hàng ngàn năm sau cũng không ai giải thích được. Rồi người ta bỏ luôn cái thân, vì cứ nghĩ tu tâm là nắm tâm mà tu, không ngờ rằng thân chính là gốc của tâm.

Sự thật, khi tu hầu như không ai an trú toàn thân cho kỹ mà luôn luôn bị rời khỏi thân. Rất nhiều lần tâm ta bị rời khỏi thân. Có 3 lý do khiến tâm bị rời khỏi thân:

- Vọng tưởng kéo ta đi, hễ động tâm là rời khỏi thân liền. Nguyên nhân này người mới tu thường hay bị.

- Khi tâm ta bắt đầu yên, rỗng sáng làm cho ta thích thú, ta chiêm ngưỡng, ngắm và an trú trong đó, ta cũng bị rời khỏi thân. Người tu tốt cũng dễ bị mất cái thân, mà mất thân là mất cái gốc, rồi sẽ bị loạn trở lại. Nguyên nhân thứ hai này người tu lâu thường bị mắc phải, khi gặp trạng thái rỗng sáng, thích thú là bỏ thân để an trú trong đó. Mà trạng thái đó nằm trên đầu. Vì thế lâu dần lực sẽ từ từ chạy lên đầu gây Tẩu hỏa nhập ma, điên loạn.

- Do ta không xác định vững lập trường phải an trú toàn thân. Ta còn mơ hồ về công phu là phải an trú toàn thân, tức là tâm ta lúc nào cũng phải an trú trên da của ta, không rời khỏi da. Ta không xác định lập trường rõ ràng nên bất cứ chuyện gì cũng làm cho ta không an trú toàn thân đầy đủ, vững chắc, rõ ràng, đầy đủ. Cho nên nói biết rõ toàn thân thì cũng chỉ biết hơi hơi thôi. Tâm vẫn bị để ý chỗ này, chỗ kia nên không an trú tòan thân một cách vững chắc, rõ ràng. Nhưng đừng chặt chẽ vì chặt chẽ thành ra dằn ép, nghĩa là phải thật nhẹ nhàng nhưng kỹ lưỡng.

Câu 3: Khi nào vọng tưởng khởi lên ta phải làm gì?

Chỉ cần trở lại an trú toàn thân, chỉ như vậy, đơn giản vậy thôi. Thật ra, ta biết được vọng tưởng để trở lại an trú toàn thân là ta đã có phước rồi nên mới sực nhớ là ta đang bị vọng tưởng để mà trở lại an trú. Còn ta không có phước thì sao? – Ta cứ đi mãi đi mãi. Nên chỗ này là nhờ cái phước mà ta gây tạo từ đời xưa cho đến đời này, ta cẩn thận từng chút một trong ý nghĩ, trong đời sống, mà đến khi vọng tưởng khởi lên ta sực nhớ mà nhớ rồi thì bắt đầu mỗi pháp môn đi theo pháp môn của mình. Người niệm Phật thì quay lại niệm Phật, người tri vọng quay lại tri vọng, hơi thở quay lại hơi thở, thoại đầu quay lại thoại đầu. Mình thì quay lại an trú toàn thân.

Khi ta an trú toàn thân đúng rồi, ta sẽ thấy một điều tự nhiên thế này ( điều này khí công gợi ý cho ta) ta từ từ an trú nhiều ở nơi vùng da bụng. Nhưng vùng da bụng không phải là tất cả mà chỉ giống như là một sự chữa trị cho ta, lâu nay ta cứ để tâm trên đầu, mắt nhìn theo sắc, tai theo tiêng, mũi đắm theo hương, đầu ta chạy ra ngoài theo ngoại cảnh. Cho nên ta an trú toàn thân một thời gian thì từ từ ta an trú phần da bụng. Khi có kết quả Thiền định thì ta lại an trú toàn thân. Nhưng ban đầu, cái tự nhiên cả ta thường là an trú nơi bụng. Vì thế, lúc đầu ta tập khí công là để gợi ý điều đó. Khi mà tự nhiên cũng đạt như vậy.

Ta an trú toàn thân sẽ hết vọng tưởng. Đây là điểm khác nhau của ta và các pháp môn khác. Thân là gốc của tâm. Khi ta an trú thì thân sẽ rỗng suốt, nhẹ nhàng.

Câu 4: Tại sao phải biết thân vô thường và biết sâu xa, biết cho tới khi mà xương sau này sẽ tan thành bụi bay mất?

Khi ta biết toàn thân thì não ta bình an lại, thư giãn lại, nhẹ nhàng lại. Nhưng thẳm sâu bên trong thì những bản năng vẫn còn nguyên vẹn. Bản năng là những ham muốn của thân, những khát vọng của cuộc sống, những cái cố chấp của tâm nó tiềm tàng là do ta chấp thân. Vì khi ta biết thân thư giãn rồi nhưng ta vẫn quý cái thân thì toàn bộ cái chấp vẫn tồn tại và phát triển. Khi biết rõ toàn thân có thể làm ta quý cái thân này. Và đây chính là chỗ khác nhau giữa đạo Phật và ngoại đạo. Ngoại đạo tu, họ cũng biết thân. Họ biết cái luân xa này, cái luân xa kia để khai mở từng luân xa nhằm đạt được quyền năng, vì vậy họ quý thân. Ngang chỗ này là phân biệt ra đạo Phật với ngoại đạo liền. Tại sao khác nhau giữa Thiền và Yoga, khí công của ngoại đạo. Cũng là chỗ này. Ta biết thân, ta quý thân, ta biết huyệt này huyệt kia, ta trở thành ngoại đạo. Ta biết thân nhưng biết thân này là vô thường thì lần lần ta phá tan hêt những bản năng, những cố chấp trong thẳm sâu, trong tâm hồn mình, trong cuộc đời mình luôn.

Ví dự như thế này, Thầy nói một cái ngặt nghèo nhất của người tu là vấn đề ái dục. Ái dục nó là bản năng tự nhiên. Nó mãnh liệt ghê lắm, không có gì cản lại được. Nhưng nếu ta ngồi Thiền ta thấy thân vô thường thời gian dài dài… thì những cái đó mất. Bắt đầu ta mới thấy được cái như Đức Phật nói là ví dụ như một người nam nhìn một người con gái đẹp, ta không hề quán họ là vô thường, không hề quán họ là bất tịnh, không cần, ta chỉ quán chính ta. Ta chỉ quán chính ta là vô thường. Nhưng bây giờ người con gái đẹp xuất hiện là mìn nhìn ra: người này đẹp như thế nhưng rồi nhan sắc họ sẽ tàn phai, tánh tình họ sẽ thay đổi, họ nhăn nheo, già nua. Ngày hôm nay thấy vậy ngày hôm sau nhìn khác. Hôm nay nhìn thấy người dịu dàng, bóng áo nâu in trên đường trăng, nhưng ngày mai nhìn thành ác quỷ không hay. Mọi chuyện trên đời là vô thường, thay đổi.

Mà nhìn cái đó xuất hiện chính là do ta quán thân vô thường, khi cái bản năng của ham muốn hết thì mình nhìn vấn đề ra rất là rõ và nhìn trùng hợp như Đức Phật đã dạy trong kinh. Nên cái quán thân vô thường lâu ngày nó phá dần các bản năng của ta hết. Và trong cái không chấp thân đó sẽ mở ra những cánh cửa trí tuệ, đi sâu vào tâm thức, phá những thói hư tật xấu, những bản ngã của ta. Những cái ngày xưa ta tham bây giờ hết tham, những cái ngày xưa ta sân bây giờ hết sân. Rất là vi diệu. Cho nên Thầy nói bước thứ nhất mà biết rõ toàn thân làm cho não chúng ta trở lại đúng chức năng, thư giãn.

Và nếu ta không thấy thân vô thường, ta quý thân thì những bản năng tiềm tàng vẫn nằm trong đó. Tuy thư giãn mà trong người đầy tham muốn thì vẫn ẩn chứa một sự sa đọa dữ dội về sau. Còn ta biết rõ toàn thân, rồi biết thân vô thường thì nó mất dần và hết luôn. Mà cái biết toàn thân luôn đi đôi với thân vô thường. Biết vô thường là biết đến mức độ nào? – Là biết tới khi thấy xương tan thành bột bay đi mất luôn. Luôn luôn phải biết cho tới cái đó, chứ không được biết một cách cạn cợt. Biết như vậy mới phá được cái chấp sâu thẳm trong bản năng ta được. Khi mới bắt đầu, ta phải mất vài phút để quán cho thật kỹ nhưng sau này, chỉ thoáng một sát na thôi là sẽ thấy suốt quá trình đó liền.

Câu 5: Tại sao biết hơi thở mà không điều khiển?

( Bài trả lời ba câu hỏi tại sao?)

Khi thần kinh thở được hưng phấn thì những vùng thần kinh não khác tự nhiên đi vào ức chế. Nghĩa là khi ta chú ý thở tự nhiện thì não không động tâm vì những chuyện khác, tự nhiên nó vào định. Ngành y học và thần kinh não đã phát hiện ra điều đó, rất phù hợp với Thiền cùa đạo Phật, cũng như với Yoga và khí công của Trung Hoa. Nhưng Yoga của Ấn Độ và khí công của Trung Hoa đều thua Thiền của đạo Phật ở chỗ là Thiền của Đạo Phật chỉ biết hơi thở mà không điều khiển.

Hơi thở phản ánh hoạt động của tâm thức. Ví dụ như ta động tâm những vấn đề bình thường thì hơi thở nó sẽ thở như thế. Ta căng thẳng tập trung thì hơi thở nó sẽ mạnh như thế, nếu ta có thêm cảm xúc, sợ hãi, thương ghét, hơi thỏ sẽ càng thấy rõ hơn nữa. Tức là mọi hoạt động của tâm thức được biểu hiện qua hơi thở. Vì vậy, khi ta biết hơi thở tức là ta biết hoạt động tâm thức ta. Ta không cân nhìn trực tiếp vào tâm ta đang vui hay đang buồn mà chỉ cần biết hơi thở ra vào thế nào là ta đang biết tâm của ta. Khi thở nhẹ nhàng, bíết tâm đang yên dần, khi hơi thở mạnh, biết tâm đang động.

Bây giờ nói ta thấy hơi thở mạnh nên kìm lại cho tâm êm lại, được không? Đó chỉ là cách chữa trên ngọn. Giống như nói tay mình thiếu đường chỉ này nên nghèo, lấy dao cắt một cái cho nó giầu vậy. Cho nên, hơi thở là biểu hiện của tâm, nhưng không phải là ta ép, điều khiển hơi thở mà làm tâm hết vọng tưởng. Đúng là kiềm chế hơi thở thì tâm yên, nhưng một nguy cơ thứ hai phát sinh, đó là sự tăng trưởng bản ngã. Cái ý điều khiển hơi thở sẽ làm tăng trưởng ngã chấp. Nên người mà ta thấy họ tu điều khiển hơi thở trong khí công hay Yoga ta thấy bản ngã họ tăng lên dần dần.

Còn những người khi thấy hơi thở mạnh, liền biết tâm mình động. Chỉ cái biết đó thôi là như đã sám hối rồi, nên chỉ lát sau hơi thở tự dịu lại, ta không điều khiển. Như vậy, tâm thức cũng giảm động mà không tăng trưởng bản ngã. Cái ưu việt của việc biết mà không điều khiẻn hơi thở là làm tâm thức lắng xuống mà không làm tăng trưởng bản ngã. Mấu chốt nằm ở chỗ này. Đó chính là lý do mà tại sao Phật dậy ta: “Hơi thở dài biết dài, hơi thở ngắn biết ngắn, hơi thở ít biết hơi thở ít, hơi thở nhiều biết hơi thở nhiều”. Chỉ cái biết đó thôi là đã điều chỉnh được tâm thức, còn nếu ta điều khiển, bản ngã tăng trưởng dần dần liền.

Những điều sâu xa trong việc tu tập như thế này là ưu việt của đạo Phật. Chúng ta may mắn được làm đệ tử của Đức Phật, có nói thế nào cũng không bày tỏ được hết lòng biết ơn của chúng ta với Đức Phật.

Qua một thời gian tu tập thì ta được rỗng suốt từ thân tới tâm. Lúc đó, những vọng tưởng manh nha thì ta biết hết. Tới chỗ này mới biết được cái tri vọng của Hòa thượng Thanh Từ. Mỗi pháp môn giao nhau ở chỗ tri vọng. Tu đúng rồi vọng tưởng khởi biết liền. Nhưng dù biết vọng tưởng rồi, nhớ đừng rời khỏi thân vì lúc đó nó nhử ta.

Khi công phu của ta vững rồi, rỗng suốt rồi thì ta sẽ bị hai nhược điểm là lúc đó mình rời khỏi thân mình để chiêm ngưỡng sự rỗng rang đó. Lúc đó ta rời khỏi cái thân là ta vi phạm nguyên tắc căn bản thứ nhất. Nghĩa là sao? Là não của ta lúc đó không còn an trú đúng chỗ của nó nữa. ta nhì cái rỗng, không để ý cái thân nữa, bắt đầu sai.

Cái thứ hai nữa là ta thích thú, ta quan sát cái vọng tưởng vì nó nhớm nhớm rồi tan biết liền làm ta rất thích thú cái công phu đó. Vọng tưởng tế vừa mới phát triển, ta thấy là phải buông liền. lúc đó ta không rời thân để nhìn tâm. Nó sẽ dụ ta nên hãy nhớ là nhiều lúc xuất hiện trạng thái rỗng suốt rồi những vọng tưởng vi tế xuất hiện, ta thấy, ta phát hiện ngay từ đầu thì chớ dại mà bỏ thân mình. Tiếp tục biết rõ toàn thân, biết thân vô thường, biết hơi thở vào ra mà không điều khiển. Cứ như vậy mà đi, giống như mũi thuyền phía trước nhưng mình điều khiển thuyền thì mình cầm cái bánh lái đằng sau. Đừng thấy mũi thuyền đi phía trước qua những thác những ghềnh, những qua bãi hoa đẹp thì ta đi điều khiển mũi thuyền. Ta ta có biến chuyển qua bao nhiêu trạng thái thì kệ nó, ta chỉ cần biết thân. Biết thân vô thường, biết hơi thỏ vào ra mà không điều khiển.

Hôm nay, thầy trả lời câu này, cũng là nâng cấp lý luận rất lớn về công phu tu tập Thiền của chùa ta cho đại chúng hiểu như vậy.

( Bài trả lời bẩy câu hỏi về Thiền)

Khi ta an trú toàn thân thì ta còn hơi chấp thân, khi ta biết thân vô thường thì trong thẳm sâu của thân ta tự nhiên buông lỏng, buông chấp ra là nhẹ liền. An trú thân là an trú tâm rồi, nhưng mà mình biết thân vô thường thì mức an trú sâu hơn, làm ta lỏng tâm ra liền. Khi tâm bắt đầu thanh thảnh thì ta thấy hơi thở vào hơi thở ra. Lúc này khi biết hơi thở rồi thì luôn luôn tự nhiên nó phải điều khiển. Đó là bệnh tự nhiên của chúng sinh, khi điều khiển hơi thở thì ý chí tăng lên và bản ngã cũng tăng lên. Người tu tập nhiều mà có điều khiển hơi thở thì sinh ra nóng nẩy. Vì vậy, ta thấy hơi thở nhưng không điều khiển. Nhưng nếu chỉ biết hơi thở thôi là một sai lầm. Đây là cái sai của rất nhiều bậc đạo sư trên thế giới. Khi ta thấy hơi thở hiện ra và ta chỉ còn biết có một hơi thở mà quên mất cái thân, ta sai liền. Nói gì thì nói, ta vẫn có điều khiển, mà muốn không điều khiển thì phải biết rõ toàn thân, biết thân vô thường, trong đó có biết hơi thở thì lúc đó ta mới biết hơi thở vào ra một cách thanh thản, tự nhiên mà không điều khiển.

Câu 6: Trong đời sống hàng ngày nếu phải lao tác, sắp xếp, tính toán thì phải dụng công thế nào?

Nhiều người trả lời trật câu này, cứ tưởng trong đời sống ta phải làm phước hay đạo đức. Đó là căn bản của Thiền, không cần nói lại.

Bây giờ mọi người nhìn Thầy, hướng về Thầy thì tâm hướng về đâu? Tất nhiên là hướng về Thầy, nhưng mọi người phải để lại một cái tâm ở nơi cái thân cho Thầy, nhẹ nhàng biết là đang giữ tâm lại ở thân. Khi mình bước vào làm việc, hoặc nghe người ta nói chuyện, tai vẫn nghe, miệng vẫn nói chuyện nhưng vẫn có cái tâm ở lại nơi thân mình.

Trong đời sống hàng ngày, ta phải dụng công như thế. Trong sổ nhật trình, ta ghi ngày hôm nay, trong khi làm việc mình đã ở lại với thân mình được nhiều hay ít hay luôn luôn bị mất, bị gián đoạn, bị hoàn cảnh lôi kéo, tác động. Làm sao mà suốt ngày, khi ăn cơm, khi nói chuyện mình vẫn giữ được một cái tâm nơi thân cho mình. Còn khi không có việc gì hết thì sao? Thì an trú thân hoàn toàn, thanh thản. Và luôn biết thân vô thường, hễ biết toàn thân là phải biết thân vô thường. Nếu công việc căng thẳng thì có một cái tâm biết thân. Nếu công việc không căng thẳng thì thêm ý niệm thân vô thường, còn nếu không có công việc thì hơi thở hiện ra luôn, giống như lúc ngồi thiền. Khi ngủ cũng như vậy. Trước khi ngủ ta có vài tâm nguyện gì đó tùy mỗi người rồi an trú thân và thấy hơi thở vào ra không điều khiển.

Câu 7: Kết quả Thiền định bắt đầu từ đâu?

Kết quả bắt đầu từ đâu. Mà sự thật do tâm, tâm an đến mức độ nào đó thì kết quả hiện ra nơi thân. Ở câu này, ai tu tới đây thì sẽ biết, sau đó nói Thầy nghe. Thầy không nói. Ta nghe người nào nói họ tu Thiền đạt tâm thế này thế kia mà không nói về kết quả của thân, ta biết người này đi lạc hướng, không có căn bản.

THÍCH CHÂN QUANG (Phật Quang)

----------- Hết nội dung trích dẫn -----------

Đúc kết lại:
- Phải biết toàn thân, để tâm an trú ở thân
- Không nên biết thêm về các luân xa (bởi dễ làm tăng bản ngã, trong khi mình cần quán thân vô thường)